Muộn phiền giới tính / Rối loạn bản dạng giới (Gender Dysphoria)

Lý do để tôi viết nên bài này là từ một cuộc tranh luận giữa tôi – một người ủng hộ tình yêu đồng tính thật sự, chứ không phải tình yêu theo phong trào – ủng hộ hôn nhân đồng tính và hai page khác. Một page gọi đồng tính là bệnh, còn page còn lại là phản đối hôn nhân đồng tính.

Trong cuộc tranh luận đó, tôi bàn về Gender Dyphoria – GD , đã từng được gọi là Gender Identity Disorder – GID, được người Việt Nam mình biết dưới tên Rối loạn bản dạng giới. DSM-5 ra đời, đã đổi tên bệnh lại, thông qua đó, cũng thay đổi trọng tâm chẩn đoán bệnh. Bệnh này nay được gọi là Muộn phiền giới tính. Trước tiên tôi sẽ nói sơ về bệnh này, sau đó sẽ nói về phần mà tôi tranh luận và hy vọng rằng các bạn sẽ hiểu về hơn nội dung.

Cảm nhận của mỗi con người về việc mình là nam hay là nữ chính là bản dạng giới. Bản dạng giới gần như phản ánh cơ quan sinh lý của một đứa trẻ: Trẻ sơ sinh có bộ phận sinh dục nam học được nó là con trai, còn những trẻ có bộ phận sinh dục nữ học được nó là con gái. Bản dạng giới khác hẳn với vai trò giới – vốn là những tính cách, hành vi và kỹ năng được xác định  là phù hợp với nam giới hoặc nữ giới tùy theo văn hóa mỗi nước. Giống như ở Việt Nam mình, đàn ông là phải giỏi giang, gánh vác được cả gia đình, phụ nữ là phải giỏi chăm chồng chăm con. Còn ở Mỹ thì đàn ông phải ga lăng, mở cửa xe, kéo ghế cho bạn gái ngồi mới là quý ông lịch sự, phụ nữ thì có thể không lấy chồng, hoặc lấy chồng mà không sinh con là chuyện bình thường.

Có một số người khẳng định rằng cơ quan sinh dục của họ và giới tính không phù hợp với nhau. Ở đàn ông, họ cảm thấy rằng mình là phụ nữ bị mắc kẹt trong cơ thể của một người con trai. DSM-5 xếp loại sự phiền muộn, khó chịu với cơ quan sinh dục là Muộn phiền giới tính. Những người này không hẳn tin tưởng rằng họ thuộc về giới tính còn lại mà họ cảm giác rằng, ngoại trừ là ngoại trừ bộ phận sinh dục thì họ có xu hướng thiên về giới tính bên kia hơn.

Những báo cáo về những người chuyển giới cho thấy họ nhận thức rõ những cảm giác khó chịu, phiền muộn này từ khi còn rất nhỏ. Nhiều báo cáo nói rằng họ mặc đồ và hành xử theo vai trò giới tính của giới tính còn lại. Nghĩa là đối với một bé trai mắc chứng này, sẽ có xu hướng mặc đồ và có hành vi như những bé gái. Mức độ nặng nề của sự khó chịu thay đổi tùy theo mỗi người. Nó sẽ ít dao động và dẩn dần chuyển nặng hơn khi đứa trẻ ấy bước vào tuổi vị thành niên với những sự thay đổi sinh lý cơ thể như con gái thì bắt đầu có ngực, và hông bự ra, còn con trai thì bắt đầu thay giọng, mọc râu và có cơ bắp. Những đặc điểm này khiến đứa trẻ khó tham gia vào các hoạt động và hành xử theo giới tính trái ngược. Có rất nhiều trẻ trong độ tuổi này bắt đầu bận tâm với mong muốn phẫu thuật thay đổi cơ quan sinh dục.

Mối liên hệ giữa Muộn phiền giới tính và xu hướng tình dục đến nay vẫn còn nằm trong vòng tranh luận. Một số nhà khoa học nói rằng những người chuyển giới chính là những người đồng tính tự nhận mình thuộc về giới tính còn lại như một cách để tránh sự kỳ thị của xã hội và những giá trị đạo đức không ủng hộ quan hệ đồng tính. Ý kiến này không hợp lý vì hai điều, thứ nhất, đồng tính nữ và đồng tính nam không hề bất mãn với cơ quan sinh dục của họ. Điều này chứng tỏ những người chuyển giới không chỉ đơn giản là muốn trốn khỏi kỳ thị xã hội về đồng tính. Thứ hai, nghiên cứu cho thấy người chuyển giới và người đồng tính có xu hướng gợi dục khác nhau khi tiếp xúc với cùng một kích thích. Cái này tôi đoán là những nhà nghiên cứu dùng biểu đồ điện não để so sánh.

Muộn phiền giới tính là một chứng bệnh tâm lý hiếm so với các bệnh tâm lý khác. Đàn ông chuyển giới sang phụ nữ nhiều hơn là phụ nữ chuyển giới sang đàn ông dựa trên tài liệu từ các văn phòng bác sĩ. Một số nghiên cứu ước tính tỷ lệ mắc chứng này là 1 trên 12,000 người với đàn ông và 1 trên 30,000 người với phụ nữ.

Full Frame Rainbow Flag Shines Bright. Source: HuffingtonPost

Full Frame Rainbow Flag Shines Bright. Source: HuffingtonPost

Khởi nguồn về giới tính ở đàn ông và đàn bà bình thường vẫn còn chưa biết rõ, thế nên chẳng lạ gì khi chúng ta không biết được nguyên nhân gây ra muộn phiền giới tính. Vì nhiều nguyên nhân mà nhiều người tin rằng bản dạng giới bị ảnh hưởng mạnh bởi các chất hóc môn sinh dục, đặc biệt là trong thời kỳ mang thai. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trên động vật, nhưng đặc biệt nhất là những dữ liệu đến từ những người “giả lưỡng tính (đồng thể)” (Pseudohermaphroditism). Những người này sinh ra theo di truyền học là đàn ông (XY) nhưng họ không thể sản xuất ra được hóc môn chịu trách nhiệm cho việc định hình cơ quan sinh dục. Thế nên đứa trẻ sinh ra với hình dạng bộ phận sinh dục không phân biệt được là nam hay nữ.

Nhiều đứa trẻ như thế này được nuôi dưỡng như con gái trong gia đình. Khi đến tuổi thành niên, hàm lượng hormone (nội tiết tố) testosterone đột nhiên tăng cao dẫn đến nhiều sự thay đổi to lớn với bộ phận sinh dục, khiến nó dần dần trở nên giống bộ phận sinh dục nam hơn. Giọng nói của trẻ sẽ trở nên trầm hơn, cơ bắp nhiều hơn và đứa trẻ sẽ nhanh chóng nhận định nó là con trai. Tốc độ chấp nhận và sự thoải mái trong việc thay đổi, xác nhận giới tính nam ở những đứa trẻ này tạo nên giả thuyết rằng bộ não đã được lập chương trình về thay đổi, lựa chọn giới tính này từ khi còn là phôi thai.

Đối với bạn, Rối loạn bản dạng giới và Muộn phiền giới tính có gì khác nhau khi triệu chứng của hai chứng này gần như giống nhau? Đối với bạn có lẽ nó không có gì khác mấy ngoại trừ cái tên thay đổi nhưng đối với những chuyên viên chẩn trị tâm lý và những đứa học tâm lý như tôi, đó là sự thay đổi rất lớn bao gồm luôn cả trọng tâm chẩn đoán bệnh. Nếu như ở DSM-4 nó là một bệnh (các tác giả dùng chữ Rối loạn – Disorder) thì ở DSM-5 họ không coi nó là bệnh. Trọng tâm chứng này nằm ở những nỗi phiền muộn khó chịu với giới tính làm cho những người mắc chứng này gặp khó khăn trong việc hòa nhập xã hội và làm việc (Bỏ chữ rối loạn, thay vào đó là buồn bực – Dysphoria). Phương pháp chữa bệnh tập trung vào việc giải tỏa những nỗi muộn phiền này. Trong phần cập nhật mới nhất cho DSM-5, các tác giả đã nói rõ rằng việc cảm thấy không thoải mái bực bội với giới tính của mình không phải là bệnh mà là những hệ quả từ việc không thoải mái này như khó chịu, trầm cảm mới là điều quan tâm chính của bệnh này. Điều này có thể thấy rõ từ phương thức chữa trị của chứng này .

Dễ dàng nhận thấy có hai cách để chữa chứng này: một là thay đổi định dạng giới của một người để cho phù hợp với cơ quan sinh dục mà họ đang có. Hai là thay đổi bộ phận sinh dục để cho phù hợp với giới tính của một người. Có rất nhiều dạng chữa trị phân tâm học cố gắng thay đổi nhận định giới tính của một người (giống như thuyết phục người nam đang mắc chứng này rằng họ là nam, chứ không phải là nữ). Nhưng kết quả đến giờ đa số là tiêu cực.

Một phương pháp khác nhận được nhiều phản hồi tích cực chính là phẫu thuật chuyển giới. Người làm phẫu thuật chuyển giới phải ít nhất 18 tuổi và trước khi thực hiện phẫu thuật phải trải qua một thời sống vài tháng với giới tính mà họ mong muốn chuyển thành để chắc rằng đó là cuộc sống mà họ muốn. Đa số những người thực hiện phẫu thuật chuyển giới xong, nhiều năm sau cho biết họ sống rất tốt, biểu hiện tích cực. Các bài kiểm tra tâm lý cũng cho thấy với những người hoàn toàn phẫu thuật xong thì mức độ trầm cảm và lo lắng giảm dần so với những người chưa làm phẫu thuật. Phẫu thuật chuyển giới chính là cách giải tỏa nỗi muộn phiền về giới tính và khiến cho những người đó có thể hòa nhập tốt hơn.

Có nhiều bạn ủng hộ quan hệ, hôn nhân đồng tính giơ cao biểu ngữ cổ vũ “giới tính thứ ba”. Cái này là hoàn toàn không đúng. Không phải các bạn không đúng mà là biểu ngữ không đúng. Ở các nước phương Tây, giới tính có hai loại là nam và nữ được xác định bởi Bộ phận sinh dục trên người từ khi sinh ra. Tuy nhiên, ở một số nước không phải phương Tây khác, giới tính không hẳn phải gắn liền với định dạng của Bộ phận sinh dục, thế nên họ có giới tính thứ ba, thứ tư, thứ năm…. Ví dụ, toà án tối cao ở Ấn Độ đã thông qua điều luật cho phép những người chuyển giới (transgender) tự xác nhận mình là giới tính thứ ba (identify as third gender)

Tuy nhiên, xu hướng tình dục là khái niệm khác hẳn với giới tính. Nó là mối gắn kết, thu hút về mặt cảm xúc, tình dục giữa bạn và một người khác có thể là đồng giới, khác giới hoặc cả hai. mặc dù chúng ta có các danh mục về các xu hướng tình dục, thế nhưng không phải lúc nào xu hướng tình dục cũng được xác định rõ rệt như thế. Các nhà khoa học cho rằng xu hướng tình dục có tính tiếp diễn (continuum) và những đề tài về mặt này còn đang được nghiên cứu thêm.

Ảnh: ics.org.vn. Được chia sẻ lại từ: Nữ Yêu Nữ Association's facebook (link: https://goo.gl/p5z8dk)

Ảnh: ics.org.vn. Được chia sẻ lại từ: Nữ Yêu Nữ Association’s facebook (link: https://goo.gl/p5z8dk)

Khuynh hướng tình dục và giới tính là hai khái niệm hoàn toàn khác biệt nhưng có rất nhiều bạn vẫn nhầm lẫn hai khái niệm này. Đó cũng chính là một phần tranh luận của tôi với các thành viên của hai page mà tôi nói ở bài trên. Một thành viên trong đó lấy trích dẫn từ một cuốn sách phát hành năm 2014 của APA,

In one perspective study of  66 boys with DSM-III diagnosis Gender Identity Disorder of Childhood, 75% subjects grew up identifying as gay men not as transgender. (Trong một nghiên cứu với 66 trẻ em trai được chẩn đoán mắc chứng rối loạn định dạng giới ở trẻ em, có khoảng 75% trong số này lớn lên tự nhận mình là đồng tính, chứ không phải là người chuyển giới).

Sau đó bạn ấy bảo rằng, từ cái study này có thể kết luận được, “Đồng tính luyến ái không phải là rối loạn định dạng giới. Nhưng ngược lại, Rối loạn định dạng giới nếu không được phát hiện và chữa trị thì bệnh nhân sẽ chuyển biến thành Đồng tính luyến ái hoặc sẽ đi tiến hành chuyển đổi giới tính.”

Kết luận này thiếu cơ sở và thiếu cả sự chính xác. Chỉ dựa vào một nghiên cứu mà đưa ra một kết luận chung với tất cả những người mắc chứng Muộn phiền giới tính là hơi cẩu thả và thiếu độ tin cậy. Hơn nữa, nghiên cứu này còn dùng DSM-III làm cơ sở chẩn đoán, thời điểm sách dùng trích dẫn là năm 1987, nghĩa là nghiên cứu được thực hiện trong năm đó hoặc còn lâu hơn nữa. Điều này nói lên cái gì, nói lên kết quả nghiên cứu này có thể không còn áp dụng được với những tiêu chuẩn mới hiện nay. Bạn nào học tâm lý học sẽ biết, một khi DSM thay đổi thì tất cả các sách tâm lý đều thay đổi. Điều thứ hai là trong nghiên cứu không đề cập đến việc những người mắc bệnh rối loạn định dạng giới có đi chưa trị hay không, nên không thể bảo Rối loạn định dạng giới không được phát hiện và chữa trị sẽ dẫn đến đồng tính.

Muộn phiền giới tính / Rối loạn bản dạng giới là về những nỗi phiền muộn khi bị mắc kẹt trong cơ thể không phù hợp với giới tính của mình, chứ nó không liên quan gì đến xu hướng tình dục cả. Có nhiều trường hợp nhiều người đi chuyển giới xong về vẫn có những mối quan hệ đồng giới. Tôi đã xem vài video nói về những người nam chuyển giới sang nữ và sau khi chuyển giới xong họ có bạn đời là nữ. Đó chính là khuynh hướng tình dục của họ. Vì vậy không thể nói rằng Rối loạn định dạng giới dẫn đến Đồng tính luyến ái được. Cái này hoàn toàn sai lầm. Bất cứ ai khi tìm nghiên cứu để đọc hoặc để viết, thì nên cẩn thận tránh việc kết luận cẩu thả như vậy. Một kết luận chung về một tập thể khó có thể dựa trên một nghiên cứu.

Bản thân tôi cho rằng Muộn phiền giới tính là bệnh phần nhiều do xã hội mang lại bởi vì sự kỳ thị, chỉ trỏ và định kiến hơn là căn bệnh mang lại cho chủ nhân của nó. Vậy tại sao DSM-5 không loại trừ nó ra khỏi danh sách các bệnh tâm lý? Những người khó chịu, buồn bực với giới tính của mình cần sự “chẩn đoán” để họ có thể nhận được sự chăm sóc và chữa trị. Phẫu thuật chuyển đổi giới tốn rất nhiều tiền, lên đến hàng trăm ngàn đô, nếu họ không có sự “chẩn đoán” từ bác sĩ là họ cần phẫu thuật để cảm thấy khỏe hơn, sống tốt hơn thì bảo hiểm sẽ không chi trả tiền để họ có thể có được sự chăm sóc cần thiết. Nếu loại bỏ bệnh này ra khỏi DSM-5 thì dẫn đến những khó khăn như vậy thế nên các tác giả của DSM-5 vẫn giữ lại bệnh này nhưng bắt đầu sự thay đổi về những định kiến từ việc chọn từ thích hợp như bỏ từ rối loạn và thay vào bằng muộn phiền như tôi đã nói trên. Như vậy thì tên sẽ giống hơn với triệu chứng và cũng loại bỏ ý nghĩ là bệnh nhân bị “bệnh”.

Tỷ lệ người mắc GD theo sách tôi là hiếm so với các bệnh tâm lý khác. Khoảng 1 trong 12,000 nam và 1 trong 30,000 nữ. Nếu chúng ta loại trừ những nước châu Âu, Mỹ và các nước có khoa học tiên tiến và chuyên ngành tâm lý học phát triển thì số người mắc GD nhưng thiếu kiến thức dẫn đến ngộ nhận là con số rất ít. Có thể vì thế nên nó không  được ghi dữ liệu lại hoặc không có nghiên cứu nào nói về nó. Nếu bạn nào tìm ra tài liệu nào nói người mắc GID (Rối loạn bản dạng giới) không  được chữa trị dẫn đến ngộ nhận đồng tính thì hãy comment ở dưới. Và lúc đó chúng ta có thể bàn tiếp về vấn đề này.

Tại sao tôi nói là loại trừ các nước châu Âu, Mỹ và các nước có nền tâm lý học phát triển? Do từ ở trường tiểu học cho tới đại học đều có chuyên viên tâm lý để các trẻ em, thanh niên đều có thể tìm đến khi gặp khó khăn. Đến độ tuổi trước khi phát dục thì các em sẽ được chia ra thành hai nhóm trai và gái học giáo dục giới tính và khuynh hướng tình dục. Tôi đã từng ký giấy đồng ý cho cháu tôi khi ấy mới học lớp 5 để cháu tham gia buổi học về giới tính và khuynh hướng tình dục. Cấp 2, cấp 3 cũng như vậy. Lên đến đại học, nói không xa, trường tôi có một phòng khám tâm lý do các bác sĩ tâm lý, chứ không chỉ là chuyên viên tâm lý để khám và điều trị về bất kỳ nguyên nhân tâm lý nào. Ngay cả khi trong trường có bạn không may qua đời, trường cũng viết email cho tất cả học sinh, khuyên ai nếu cảm thấy buồn, phiền muộn  thì hãy đến phòng tâm lý. Hệ thống y khoa liên thông tất cả các bác sĩ thuộc chuyên ngành khác nhau. Mỗi gia đình đều có bác sĩ gia đình nhất định, nếu gặp vấn đề khó khăn về tâm lý thì bác sĩ gia đình sẽ chuyển qua cho bác sĩ tâm lý giải quyết. Người bệnh sẽ không gặp cảnh bơ vơ không  biết đi đâu hoặc không biết tìm ai. Hơn nữa với các nguồn dữ liệu và Internet dồi dào thì không sợ phần thiếu kiến thức ấy. Vậy thì tỷ lệ người mắc GID mà thiếu kiến thức là bao nhiêu ở những nước phát triển như vậy? Tôi nói là gần như là con số 0.

Tiền đề để ngăn chặn những trường hợp như vậy thì trước hết xã hội phải chấp nhận người đồng tính và đối xử với họ như người bình thường, quan tâm đến phát triển tâm lý của họ. Họ không quan tâm đến giới tính và khuynh hướng tình dục mà quan tâm đến khả năng đóng góp cho xã hội của từng người. Họ coi mỗi người là “nguồn” để giúp cho xã hội đi lên và vì thế họ quan trọng tâm lý của mỗi người là vì thế, vì họ muốn ngăn cản lại những phiền muộn  làm ảnh hưởng đến khả năng làm việc và học tập của mỗi người, qua đó phần nào kéo xã hội đi xuống.

Trong những năm gần đây những người đồng tính bắt đầu nhận được những quyền lợi như những công dân bình thường. Kết hôn, nhận con nuôi, quyền lợi li dị… Họ còn có cả tổ chức bảo vệ quyền lợi cho mình sẵn sàng đấu tranh cho họ trên pháp luật của nước do những người có kiến thức, địa vị cao ủng hộ và phát triển.

Còn ở nước ta, tại sao lại phải tuyên truyền? Là do chúng ta cứ cấm cản. Ngay cả trong chương trình học về giới tính và sinh sản thì các cô giáo, thầy giáo còn thấy ngại và bỏ qua. Cách đây 8 năm khi tôi học lớp 11, cô tôi còn không đề cập đến nửa chữ. Việt Nam còn chưa có một tổ chức rõ ràng bảo vệ quyền lợi người đồng tính như một công dân tự do của nước (tôi không biết hiện giờ thì như thế nào). Các phong trào tuyên truyền do giới trẻ tự phát với mục đích đòi quyền lợi cho người đồng tính được đối xử như công dân bình thường. Vấn đề ở đây là do nhà nước cấm cản nên họ không được giáo dục về giới tính và khuynh hướng tình dục, và các tài liệu về vấn đề này được dịch ra rất ít và không da dạng. Không phải ai cũng có cơ hội được ra nước ngoài mở mang kiến thức, hoặc như bạn đọc hiểu tiếng anh và có thể dùng nó để tìm các tài liệu bổ ích chưa được dịch khác. Vì thế tuyên truyền đi kèm với con dao hai lưỡi.

Vậy thì làm thế nào để giảm tải cái hại mang về? Thành lập một tổ chức phi chính phủ do những người có kiến thức khoa học và tâm lý phổ biến về giới tính và khuynh hướng tình dục. Nhà nước phải công nhận một số quyền lợi cho dân đồng tính, như dân đồng tính có thể kiện một công ty nếu họ không  nhận người đó vì lí do là đồng tính dù người đó đủ điều kiện. Nếu không chấp nhận kết hôn thì ít ra cũng nên cho các cặp đôi đã sống lâu một số quyền lợi như phân chia tài sản hoặc hỗ trợ xã hội như Úc đã làm (xin lỗi nếu tôi nhớ nhầm), nới rộng và quy định trường học phải dạy về giới tính….

Tuy nhiên, ở xã hội Việt Nam thì những phương pháp tôi đề ra giống như người si nói mộng. Bởi vì ngay cả bạn còn giới hạn quyền lợi công dân của họ, nhìn họ bằng con mắt kỳ dị hoặc thương hại vì họ “khác bình thường”. Tâm lý con người dễ đồng cảm với những ai ở vị thế “yếu” hơn mình hoặc “tội nghiệp” hơn mình và vì thế mình dễ dàng tha thứ khi người đó làm gì sai. Có một số người đồng tính lợi dụng tâm lý này để mưu lợi và làm ra vẻ đáng thương, đổ lỗi cho xã hội. Chúng ta phải ngừng cái suy nghĩ “tội nghiệp” ấy đi và nghĩ họ như bình thường, đối xử với họ bình thường, thì lúc đó tình hình của người đồng tính ở Việt Nam mới có thể có tiến triển tốt hơn, và phần nào giảm thiểu các tai nạn, và tệ nạn xã hội.

Có một điều đáng buồn là khi tôi đọc những bài tranh luận bảo vệ đồng tính thì nhiều bạn lại dựa vào cảm tính như họ cũng là con người, cũng có quyền được yêu, được kết hôn. . .  mà thiếu những kiến thức khoa học để phản biện lại những ý kiến mà bên phản đối đưa ra. Khiến cho các bạn bị đuối lý rồi đâm ra tức giận chửi thề… Làm cho bên kia hả hê và quy chụp rằng những người bảo vệ hôn nhân đồng tính chỉ biết theo phong trào chứ đầu óc chứ trong đầu chẳng có bao nhiêu kiến thức. Tôi nghe rất buồn, đó cũng là nguyên nhân khiến tôi tìm hiểu và cố gắng tranh luận. Các bạn ạ, người Mỹ có câu, hãy bảo vệ bản thân bằng tri thức (armed yourself with knowledge). Các bạn thấy thương và thông cảm cho những người đồng tính thôi thì chưa đủ, các bạn còn phải hiểu rằng mình đang bảo vệ cái gì và vì sao mình lại bảo vệ nó. Đừng để cho người khác nghĩ rằng các bạn ủng hộ chỉ là vì phong trào. Hy vọng rằng bài viết này cung cấp thêm một số thông tin để các bạn hiểu thêm về LGBT và có thêm kiến thức khi muốn bảo vệ cộng đồng đó.

Tham khảo từ: Abnormal Psychology by Thomas F. Oltmanns, 7th edition và NYNA’s facebook

Dịch và viết: Hải Đường Tĩnh Nguyệt

Hiệu đính: KLinh

7 thoughts on “Muộn phiền giới tính / Rối loạn bản dạng giới (Gender Dysphoria)

    • Con e năm nay 17 tuổi. Cháu sinh ra và lớn lên phát triển bình thường. Bắt đầu từ năm ngoái cháu có biểu hiện về thần kinh như run tay. Cổ giật. Đi khám bác sỹ chuẩn đoán cháu bị rối loạn vận động phân ly. Gần đây cháu có nói cháu thik làm con trai. Thik cắt tóc ngắn. Muốn được bố mẹ chấp nhận bản thân mình. Gia đình em phản đối vì cho rằng cháu chỉ bị rối loạn giới tính của tuổi dậy thì. E cũng đã tìm hiểu rất nhiều nên nghĩ con mình như thế. Chưa có điều kiện đi khám lại vì cháu đang học giữa kỳ. Chờ nghỉ hè gd sẽ đưa cháu đi khám. Gần đây cháu tỏ thái độ buồn bực khó chịu như kiểu trầm cảm ấy. Gd lo quá chưa bit sẽ phải thế nào. Liệu con em có phải đồng tính k ah. Nếu khám thì khám ở đâu ah.

      Liked by 1 person

      • Chào chị,

        Trước hết, đồng tính không phải bệnh chị nhé. Người đồng tính bây giờ được chấp nhận và sẽ có hạnh phúc như bao người khác nếu gia đình chấp nhận và ủng hộ. Quan trọng là cha mẹ. Còn những biểu hiện như chị kể thì chúng tôi chưa thể biết được bé có đồng tính hay không. Rất có thể là trong độ tuổi mới lớn thì bé muốn nổi loạn một chút, muốn cá tính,… hoặc rất có thể cháu đang trong quá trình xác định giới tính thật của mình. Đó là tất cả những gì tôi có thể nói. Hiện tại chị đang ở đâu vậy ạ?

        Số lượt thích

  1. Em có chỗ không hiểu . Vì như ad nói “Muộn phiền giới tính / Rối loạn bản dạng giới là về những nỗi phiền muộn khi bị mắc kẹt trong cơ thể không phù hợp với giới tính của mình, chứ nó không liên quan gì đến xu hướng tình dục cả” nhưng những đoạn sau lại “Tiền đề để ngăn chặn những trường hợp như vậy thì trước hết xã hội phải chấp nhận người đồng tính và đối xử với họ như người bình thường” . Có chút mâu thuẫn ở đây vì đồng tính vốn là xu hướng tình dục mà . Đáng lẽ ra là “phải chấp nhận người chuyển giới và đối xử với họ như người bình thường’ chứ ???

    Số lượt thích

    • Mình xin giải thích chỗ không hiểu của bạn Fuyuki theo những gì mình đã đọc:
      Những người mắc “Muộn phiền giới tính / Rối loạn bản dạng giới” được nói có khả năng là người đồng tính bị định kiến xã hội và “Vai trò giới” quy chuẩn nên dễ dàng, những người đồng tính muốn tránh né sự kì thị đó mà lầm tưởng rằng: họ mắc chứng bệnh này. Dễ hiểu hơn, định kiến xã hội ở đây là việc nam phải yêu nữ, không có chuyện nam-nam hay nữ-nữ yêu nhau. Vì vậy những người đồng tính có khả năng tự quy chuẩn họ là người chuyển giới để phù hợp với định kiến đó cũng như suy nghĩ của xã hội áp đặt lên họ. Và câu sau đã nói ra giải pháp “xã hội phải chấp nhận người đồng tính và đối xử với họ như người bình thường ” là nhấn mạnh về việc sự nhìn nhận của xã hội về “xu hướng tính dục” phải thật sự rõ ràng. Rằng người đồng tính là nhóm gặp khó khăn nhiều hơn là người chuyển giới trong xã hội và dễ dàng bị hiểu lầm bởi những ai chưa có kiến thức về xu hướng tính dục.
      Theo mình trường hợp bạn dịch giả nói đến ở đây là thế.

      Số lượt thích

  2. Rất tuyệt vời về GD ! Bài viết được nhìn nhận rất sâu sắc dưới góc độ khoa học.Tôi thiết nghĩ vấn đề về “giới” mà tác giả bàn đến thì nó còn ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh khác như văn hóa, tôn giáo, giáo dục…. nếu như thật sự đào sâu hơn nữa. Ở Việt Nam những khái niệm này thật sự rất khó để tiếp xúc và tạo được sự hiểu biết trên diện rộng, không đơn thuần là trình độ dân trí, hoặc thể chế xã hội, mà một số phận bộ phận vẫn còn sử dụng giới tình của mình để hùa theo một mục đích nào đó. Điều này gây lẫn lộn và tiêu cực cho những người đồng tính thật sự cần đấu tranh.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s