Yếu tố tâm linh trong công tác chăm sóc y tế

*Yếu tố tâm linh (spirituality) có ý nghĩa khác nhau tuỳ theo từng người. Thông thường, khi nhắc đến tâm linh, người ta sẽ nghĩ đến những điều kì bí, mang yếu tố thần thánh. Tuy nhiên, tâm linh còn ám chỉ những gì liên quan đến tinh thần, tâm hồn của một cá nhân. Trong bài viết này, từ “tâm linh” được sử dụng với cả hai nghĩa. Hoạt động tâm linh từ đó có thể ám chỉ việc gia nhập tôn giáo hay tham gia vào các hoạt động tôn giáo: đi tới đền chùa, nhà thờ, vv.; hoặc cũng có thể là hoạt động tĩnh tâm như như là cầu nguyện, tập yoga, thiền hay đơn thuần là đi dạo thật lâu. Nếu như tôn giáo (religion) là hướng đến một chủ thể tối cao nào đó, thì tâm linh (spiritual) là hướng vào trong chính bản thân mình.

By Michelle Haymoz

By Michelle Haymoz

Các công tác về tâm linh đã và đang đóng vai trò quan trọng trong công việc chăm sóc sức khoẻ, cũng như trong đời sống của nhiều bệnh nhân. Tuy nhiên, không có nhiều y bác sỹ nhận thức được điều này. Trong các dịch vụ y tế, các khách hàng/bệnh nhân thường cho rằng nhu cầu chăm sóc về mặt tâm linh chưa được đáp ứng đầy đủ (Hodge & Horvath, 2011). Việc nước Mỹ rất đa dạng về sắc tộc dẫn đến sự đa dạng về tín ngưỡng tâm linh. Trong hầu hết các trường hợp, y bác sỹ thường tránh các vấn đề liên quan đến yếu tố tâm linh trong tương tác giữa bác sỹ-bệnh nhân. Nhưng đây có thể không phải là cách làm việc hiệu quả nhất. Thấu hiểu tín ngưỡng tâm linh của bệnh nhân sẽ giúp y bác sỹ tìm cách kết hợp các công tác tâm linh vào quá trình chữa bệnh để đạt được hiệu quả chữa trị tốt hơn.

Tính tâm linh được định nghĩa là cảm giác gần gũi và kết nối với một điều gì đó thiêng liêng. Đó có thể là một đấng tối cao, hoặc cũng có thể là một hiện thực của cuộc sống (Worthington et al., 2010). Song song với sự chịu đựng về thể chất từ bệnh tật, các bệnh nhân còn phải vật lộn với những nỗi đau về tâm lý và tinh thần, bao gồm sự lo âu và/ hoặc sự phẫn nộ. Những người bệnh có thể đặt ra những câu hỏi như: “Vì sao điều này lại xảy ra với mình? Mình sẽ chết ư? Liệu có cách nào chữa được không? Chúa sẽ giúp mình vượt qua chứ?” Trong một bài viết của mình, Pulchaski cho rằng việc điều trị toàn diện cần phải giúp bệnh nhân trả lời được những câu hỏi này. Có rất nhiều bệnh cho đến nay vẫn chưa tìm ra được cách chữa khỏi hoàn toàn; thế nhưng, công tác điều trị vẫn là cần thiết. Đó không nhất thiết chỉ là sử dụng phương thuốc chữa bệnh, mà còn là công việc giúp cho bệnh nhân đạt được sự chấp nhận tình trạng của bản thân và một sự yên ổn trong tâm hồn. Theo Pulchaski (2001), đây là điều cốt lõi của chữa trị về tinh thần.

Theo Pulchaski (2001), có nhiều nghiên cứu đang được thực hiện phân tích sự hiệu quả của hoạt động tâm linh và sức khoẻ. Nội dung các nghiên cứu thường rơi vào một trong ba mục: tử vong (mortality), đương đầu (coping), và hồi phục (recovery). Ở  khía cạnh “tử vong”, các nghiên cứu quan sát (observational study) cho thấy những người thường xuyên tham gia vào các hoạt động tâm linh sống lâu hơn. Một nghiên cứu khác trên 1700 người lớn tuổi cho kết quả rằng nguy cơ tăng lượng Interleukin IL-6 ở những người đến nhà thờ chỉ bằng một nửa so với những người khác (Koenig et al., 1997). Interleukin IL- 6 là một tế bào hoạt động trong hệ thống miễn dịch, sự gia tăng lượng Interleukin IL- 6 liên quan đến sự gia tăng khả năng mắc bệnh. Đây là một trong những bằng chứng cho thấy vai trò hiệu quả của yếu tố tinh thần và tôn giáo trong việc phòng ngừa bệnh tật.

Các nghiên cứu về “đương đầu” cho thấy những người hoạt động tâm linh có một cái nhìn tích cực hơn về cuộc sống. Ở mục này, tâm linh là một thước đo chất lượng cuộc sống, thể hiện qua các khía cạnh: cảm thấy sự tồn tại của bản thân là có ý nghĩa, việc hoàn thành các mục tiêu cuộc sống, và cảm giác cuộc đời là đáng sống. Điều này có thể liên quan đến sự lạc quan tăng lên trong mỗi cá nhân để đạt được nhiều kết quả tích cực hơn trong cuộc sống. Đồng thời, sự lạc quan từ những hoạt động tâm linh cũng giúp cho bệnh nhân ung thư nghiêm trọng cảm thấy hài lòng với cuộc sống hơn và cảm thấy ít đau đớn hơn. Trong một khảo sát về bệnh ung thư phụ khoa, một nhóm 108 người phụ nữ được hỏi điều gì đã giúp họ đương đầu với căn bệnh và đối mặt với cái chết, và 93% trả lời đó là những tín ngưỡng tâm linh. Họ tin rằng Chúa sẽ bảo vệ cho họ và cái chết không phải điểm kết thúc. Nghiên cứu này một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của hoạt động tâm linh trong công việc chăm sóc y tế và khả năng đương đầu với bệnh tật của con người. Khi bị thử thách với những trở ngại như ốm đau hay mất mát, con người có xu hướng tìm tới những giá trị tâm linh để tìm kiếm một lời giải thích và làm cho quá trình chữa trị dễ dàng hơn (Pulchaski, 2001).

Không chỉ bệnh nhân, cả người thân và bạn bè của họ cũng cũng có những nhu cầu về tâm linh trong cơ chế đương đầu. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về chủ đề này. Việc tìm hiểu vai trò của sức khoẻ tâm linh trong giai đoạn chịu đựng mất mát của con người cũng như trong toàn thể chất lượng cuộc sống của những người đứng dậy sau mất mát là có ích và cần thiết (Sulmasy, 2002).

Eric Paré

By Eric Paré

Trong một cuốn sách khác, “Patient and Healer in the Context of Culture” (“Bệnh nhân và người chữa trị theo bối cảnh văn hoá”), Kleinman (1980) miêu tả một trường hợp cụ thể về một người phụ nữ lớn tuổi đi tới đền của một pháp sư, mang theo một bộ quần áo của chồng bà. Bà hỏi rằng liệu chồng mình, đang bị bệnh tim và đang được chữa trị tại bệnh viện, tình trạng có khả quan hơn không. Sau khi thực hiện nghi thức, pháp sư đưa cho người phụ nữ một số bùa chú cho chồng bà; sau đó, ông tiếp tục an ủi, và trấn an bà rằng chồng bà sẽ ổn thôi, và bà đừng lo lắng quá nhiều. Đây là một ví dụ về “đương đầu”. Pháp sư công nhận tình trạng của người phụ nữ và bệnh tình của chồng bà. Cách chữa trị mang tính tâm linh như thế này có thể giảm sự lo âu, làm dịu cơn giận dữ, tăng cường và cổ vũ niềm tin cho con người rằng họ đã thử mọi phương pháp điều trị có thể (Kleinman, 1980).

Ở khía cạnh “hồi phục”, yếu tố tâm linh mang lại hy vọng và sự lạc quan, tăng lòng tự tôn và giảm sự lo âu. Những yếu tố này có thể hỗ trợ sự phục hồi bệnh tật và sau các ca phẫu thuật. Bên cạnh những thực hành về tôn giáo, thiền cũng có có tác dụng với các bệnh nhân bị đau mạn tính, huyết áp thấp và lo âu. Tuỳ theo từng bệnh nhân và đặc điểm thể chất của họ mà sự gắn bó với những hoạt động tâm linh khác nhau có thể cho hiệu quả tích cực lên tình trạng sức khoẻ (Pulchaski, 2001).

Năm 1985, một cuộc khảo sát Gallup cho thấy một phần ba dân số Mỹ cho rằng tôn giáo là khía cạnh quan trọng nhất trong cuộc sống của họ, và một phần ba khác cho rằng tôn giáo rất quan trọng (Dein, 2004). Nghiên cứu chỉ ra rằng khoảng 41- 94% các bệnh nhân muốn bác sỹ của mình đề cập đến các vấn đề về tâm linh, và điều này đặc biệt cần thiết nếu như họ đang cận kề cái chết (Sulmasy, 2002). Một vài nghiên cứu cho thấy các bác sỹ tâm thần đôi khi ít sùng đạo hơn bệnh nhân của họ. Tác giả của những nghiên cứu này gọi đây là “khoảng cách về tôn giáo”, và họ cũng chỉ ra rằng “gần đây những nỗ lực điều tra thực nghiệm về mối quan hệ giữa tôn giáo, tâm linh, và sức khoẻ tâm lý gợi ra rằng tôn giáo có thể giúp cải thiện sức khoẻ tâm lý.” (Dein, 2004).

Tuy nhiên, dù cho y học phương Tây hiện đại và hiệu quả, các bác sỹ phương Tây đôi khi không thể giải quyết được vấn đề liên quan đến tâm lý và tinh thần, khi họ trải qua rất ít hoặc không được đào tạo về tôn giáo và tâm linh, và bản thân cũng đánh giá thấp tác dụng của hai yếu tố này đối với bệnh nhân. Hơn thế nữa, một vài bác sỹ tâm thần nhìn nhận tôn giáo như một hình thức chuyên tạo ra cảm giác tội lỗi của sự phụ thuộc và sự thiếu khôn ngoan. Theo Freud – cha đẻ của tâm lý học, tôn giáo là “một chứng loạn thần kinh ám ảnh phổ biến” (“universal obsessional neurosis). Một số chuyên gia sức khoẻ tâm lý có thể nổi giận và tranh cãi với bệnh nhân về tín ngưỡng tôn giáo và còn gợi ý cho bệnh nhân nên đi trị liệu cho cách suy nghĩ này. Trong trị liệu, đây là vấn đề “chuyển dịch ngược” (khi nhà trị liệu để cảm xúc của mình ảnh hưởng lên bệnh nhân và việc điều trị) (Dein, 2004).

Mặt khác, một số nhà tâm lý học, ngoài việc nâng cao nhận thức về tính tâm linh, đã kết hợp đưa yếu tố tôn giáo và tâm linh vào công việc trị liệu. Chiến lược này giúp cho việc nghiên cứu hiệu quả và công tác đào tạo được cụ thể hơn. Trong một bài báo, nhà tâm lý học theo đạo Cơ- đốc, William Hathaway- Tiến sĩ của trường đại học Regent, bang Virginia nói rằng các phương pháp sử dụng việc cầu nguyện, ghi nhật ký về tinh thần, các quy tắc về tha thứ, và kinh thánh giúp củng cố trạng thái tâm lý và thói quen cảm xúc trở nên lành mạnh hơn. Ông ấy dùng những phương pháp về tâm linh để giúp khách hàng điều khiển cơn giận và vượt qua khỏi những tình huống bị lạm dụng. Sự cởi mở, sự nhạy cảm và sẵn sàng chia sẻ về các vấn đề tâm linh có thể tạo nên sự tin tưởng giữa khách hàng và chuyên gia y tế (Kersting, 2003).

Theo Sulmansy, một con người luôn nằm trong mối quan hệ giữa các yếu tố về sinh học, tâm lý, xã hội, và siêu việt. Bệnh tật ảnh hưởng tới mối quan hệ này cả bên trong lẫn bên ngoài cơ thể. Phía trong cơ thể sẽ là ảnh hưởng lên tương tác giữa những bộ phận cơ thể với các hoạt động sinh hoá, và lên mối quan hệ giữa trí óc và cơ thể. Bên ngoài cơ thể, sự quấy rối của bệnh tật bao gồm hai mặt: quan hệ giữa cá thể bệnh nhân và môi trường bên ngoài, và quan hệ giữa bệnh nhân và yếu tố siêu việt. Đây là những yếu tố cơ bản của mô hình Tâm lý-sinh học-xã hội-tâm linh trong chăm sóc y tế.

Trong mô hình này, việc điều trị đồng nghĩa với việc khôi phục lại đúng các mối quan hệ. Từ đó, công việc chăm sóc y tế một cách tổng thể được định nghĩa là một hệ thống chăm sóc y tế xét đến tất cả những mối quan hệ bị ảnh hưởng của bệnh nhân và hồi phục lại những thứ có thể hồi phục được. Việc điều trị này yêu cầu sự tập trung vào tương tác giữa các mối quan hệ về tâm lý, xã hội và tâm linh, đặc biệt là ở thời điểm cận kề cái chết khi mà những vấn đề mang tính tâm linh sẽ tự nhiên nảy sinh. Đó là những câu hỏi về ý nghĩa, giá trị và mối quan hệ. Cho dù là lịch sử hoạt động tâm linh của bệnh nhân như thế nào, sự cận kề cái chết sẽ gợi ra cho bệnh nhân những nghi vấn về giá trị và ý nghĩa cuộc sống của họ, về sự chịu đựng, và cái chết. Những câu hỏi về “ý nghĩa” bao gồm trong”hy vọng”, những câu hỏi về “giá trị” thường bao gồm phẩm cách, và những câu hỏi về “mối quan hệ” thể hiện qua nhu cầu của sự “tha thứ”. Đối với các chuyên gia y tế, việc phớt lờ những câu hỏi này vào những thời điểm căng thẳng nhất thì không khác gì bỏ rơi bệnh nhân khi họ cần trợ giúp nhất. Việc chối bỏ những câu hỏi này sẽ dẫn tới việc cắt đứt kết nối trong tương tác bác sỹ- bệnh nhân bởi đây là một yếu tố quan trọng trong sức khoẻ của bệnh nhân khi hệ thống y tế tiêu chuẩn không còn giữ được hướng điều trị và tính hiệu quả của việc duy trì cuộc sống. Vào thời điểm đó, phương pháp điều trị khả dĩ nhất có lẽ chỉ có tâm linh (Sulmasy, 2002).

Thierry Bornie

By Thierry Bornie

Mô hình này cũng gợi ra rằng mọi người đều có một tiểu sử hoạt động tâm linh, có thể sẽ được hé lộ ra trong các tình huống về truyền thống tôn giáo. Tuy nhiên, dù cho việc này được hé lộ như thế nào, hoạt động tâm linh đã góp phần tạo nên bệnh nhân thành một cá thể toàn diện. Trong một tình huống nguy hiểm đến tính mạng, sự nguy hiểm tấn công con người một cách toàn thể. Vì thế, trong mô hình tâm-sinh-xã hội-tâm linh trong chăm sóc y tế,  sinh học, tâm lý, xã hội và tâm linh là những khía cạnh riêng biệt của người bệnh, và không yếu tố nào nên bị quên lãng. Mỗi khía cạnh sẽ có những ảnh hưởng khác nhau lên người bệnh, tuỳ theo tiền sử bệnh và tương tác giữa bệnh nhân với những yếu tố khác (Sulmansy, 2002).

Sự quan trọng của những tín ngưỡng tâm linh cũng được khắc hoạ trong điện ảnh đương đại. Trong phim Cuộc đời của Pi (Life of Pi), đạo diễn Ang Lee đã kết hợp chặt chẽ giữa sinh tồn của con người và tín ngưỡng tâm linh, và nhấn mạnh tính ý nghĩa nhân văn của “cuộc đời”. Trong những ngày lạc ở biển và phải đối diện với những thử thách sinh tồn, nhân vật chính Pi vẫn duy trì tinh thần và niềm tin của mình vào Chúa. Pi tiếp nhận từng lớp từng lớp của sự tâm linh để từ đó tổng hợp thành một hệ thống niềm tin cá nhân, và sự cống hiến sâu sắc cho cuộc đời (Foster, 2002). Nếu không có niềm tin nhen nhóm cho hy vọng sống sót, Pi có lẽ đã đầu hàng trước thiên nhiên.

Bên cạnh những phương pháp tiên tiến trong chăm sóc y tế, tín ngưỡng tâm linh là một công cụ khác có thể được áp dụng một mình hoặc kết hợp với các phương pháp khác trong việc chữa trị cho bệnh nhân. Điều này giúp cho bệnh nhân đạt được kết quả điều trị tốt nhất và không khía cạnh nào bị bỏ sót. Hơn nữa, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tín ngưỡng tâm linh thực sự nâng cao sức khoẻ tâm lý. Vì thế, mỗi chuyên viên sức khoẻ nên được đào tạo để hiểu biết về lĩnh vực này và có thể sẵn sàng áp dụng vào thực tiễn khi cần thiết.

Nguồn tham khảo:

Puchalski, C. (2001). The role of spirituality in health care. Proc (Bayl Univ Med    Cent), 14(4), 352–357. Retrieved from http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC1305900/

Dein, S. (2004). Working with patients with religious beliefs. Advances in Psychiatric Treatment, 10(1192), 287-294. Retrieved from http://apt.rcpsych.org/content/10/4/287.full

Kleinman, A. (1980). Patients and healers in the context of culture. (p. 227). London: University of California Press, Ltd. London, England.

Hodge, D., & Horvath, V. (2011). Spiritual needs in health care settings: a qualitative meta-synthesis of clients’ perspectives. Social Work, 56(4), 306-316. Retrieved from http://www.mendeley.com/catalog/spiritual-needs-health-care-settings-qualitative-meta-synthesis-clients-perspectives/

Worthington et al. (2011). Religion and spirituality. Journal of Clinical Psychology, 67(2), 204-214.

Foster, K. (2002, Sept 04). Life of pi: A novel by yann martel. PopMatters, Retrieved from http://www.popmatters.com/pm/review/life-of-pi/

KERSTING, K. (2003). Religion and spirituality in the treatment room. American Psychological Association, 34(11), 40. Retrieved from http://www.apa.org/monitor/dec03/religion.aspx

Sulmasy, D. (2002). A biopsychosocial-spiritual model for the care of patients at the end of life. The Gerontologist, 42(III), 24-33. Retrieved from http://psychres.washington.edu/syllabiandreadings/spirituality_culture/article_sulmasy.pdf

Foster, K. (2002, Sept 04). Life of pi: A novel by yann martel. PopMatters, Retrieved from http://www.popmatters.com/pm/review/life-of-pi/

Koenig HG, Cohen HJ, George LK, Hays JC, Larson DB, Blazer DG. Attendance at religious services, interleukin-6, and other biological parameters of immune function in older adults. Int J Psychiatry Med. 1997;27:233–250.

Viết: Hải Đường Tĩnh Nguyệt

Dịch: Dahlia Nguyen

Hiệu đính: Khánh Linh

 

2 thoughts on “Yếu tố tâm linh trong công tác chăm sóc y tế

  1. Chào chị Linh, trước hết tâm linh đóng vai trò rất quan trọng trong việc cũng cố lòng tin và tăng sức mạnh tinh thần!
    Tuy nhiên, bệnh thần kinh không chỉ có thần kinh thật, một số rất nhỏ trong số đó là thân kinh giả! Tuy nhiên, việc quá tin tưởng về khoa học cũng như mê tín về mặt tâm linh khiến mọi người khó có được tiếng nói chung và có thể để lại hậu quả nghiêm trọng!
    Chỉ thử đọc sites này của tôi, mong chúng ta có tiếng nói chung và phối hợp với nhau để giúp đỡ được nhiều người khổ sở về tâm hồn: https://sites.google.com/site/lanhutran/home
    ( Tôi đã từng đọc các bài viết của chị, thấy rất hay và bổ ích! Xin lỗi vì có lấy trang web của chị vào một tab trong sites nhưng mục đích của tôi không xấu nên mong chị thông cảm!)
    Chào và chúc may mắn!

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s